Chủ nhật, ngày 28 tháng mười hai năm 2008

Uống trà xanh để răng trắng hơn

Uống trà pha chế để bảo vệ răng trắng hơn. Trà không có những tác động ăn mòn đối với răng và theo một nghiên cứu mới hơn, những chất chống oxy hoá có trong trà còn đem lại nhiều lợi ích về mặt sức khoẻ.

Đường tinh chế và axit có trong soda và nước hoa quả giống cam quýt thường đẩy mạnh quá trình ăn mòn răng, nó làm hỏng lớp bảo vệ rắn chắc của răng, hay còn gọi là men răng. Một khi men răng đã hỏng, nó sẽ không bao giờ có thể phục hồi được. Nhưng trà pha chế thì không có những tác động như vậy.

Trà có chứa những chất chống oxy hoá tự nhiên, những chất này được xem như yếu tố làm giảm nguy cơ mắc ung thư, các bệnh tim mạch, và bệnh tiểu đường, như thế, nó đem lại rất nhiều lợi ích khác nhau.

Trong nghiên cứu, Tiến sĩ Mohamed A. Bassiouny, trưởng nhóm nghiên cứu đã so sánh trà xanh và trà đen với soda và nước cam về những tác động ngắn hạn cũng như dài hạn của sự ăn mòn răng. Và khi so sánh trà xanh và trà đen với nhau, Tiến sĩ đã phát hiện ra rằng, tốt hơn cũng nên lựa chọn giữa trà xanh và trà đen.

Ông cũng bổ sung thêm rằng, nhiều nghiên cứu đã được tiến hành ở các nước như Nhật Bản và Châu Âu, người ta phát hiện ra rằng trà xanh được xác định là tốt hơn so với trà đen vì những chất dinh dưỡng tự nhiên và các chất chống oxy hoá mà nó có được. Bassouny nói, “Khi chúng ta xem xét đến trà và biết về những lợi ích của nó mang lại, thật kinh ngạc – vì những thứ có lợi mà nó mang lại”.

Kenton Ross, tiến sĩ nha khoa, phát ngôn viên của AGD, đã thấy nhiều bệnh nhân mắc những bệnh răng lợi liên quan đến sự ăn mòn răng. “Nghiên cứu này thực sự đã chỉ ra rằng trà có liên quan mật thiết với việc làm giảm đáng kể sự hư hại men răng hơn những thứ nước ngọt và nước hoa quả chứa axit khác. Tôi luôn gợi ý cho các bệnh nhân của tôi hãy lựa chọn trà như là một đồ uống thay thế cho các loại đồ uống khác như soda hay nước hoa quả”.

Các chuyên gia cũng gợi ý rằng, không nên uống trà kèm các phụ liệu như sữa, chanh, đường vì chúng kết hợp với dinh dưỡng trong trà và làm giảm lợi ích của trà. Người ta cũng khuyên rằng, hãy tránh xa những thứ trà ướp lạnh đóng gói vì chúng có chứa axit citric và một lượng lớn đường. Sẽ không có vấn đề gì nếu bạn thích uống trà lạnh hay nóng, miễn là nó được pha chế tại nhà và không kèm theo phụ liệu.

[aFamily]

Thứ tư, ngày 10 tháng mười hai năm 2008

Lợi ích của Trà xanh

Trà đen, trà xanh đều là sản phẩm từ cây trà có tên khoa là Camellia Sinensis. Trà đen được ủ men còn trà xanh thì không (trà ô long được ủ men một phần) trà xanh là thức uống sức khoẻ phổ biến ở Châu Á từ hơn 5000 năm qua.

Trà xanh giúp phòng chống bệnh ung thư vú
Những chất Polyphennol có trong trà xanh có vai trò quan trọng trong việc phong chống bệnh ung thư. so với trà đen thì trà xanh có hàm lượng polyphenol cao hơn vì không bị quá trình ủ men làm thay đổi thành phần. Đặt biệt, chất chống oxy hoá EGCG (epigallotechin gallate) là loại polyphenol vô cùng mạnh mẽ , là nhân tố chủ yếu tạo nên dược tính của trà xanh. Nó có công dụng ngăn ngừa các enzyme kích hoạt sự sao chép nhân bản tế bào.

Trong nhiều thí nghiệm khác nhau những con chuột bị khối u ở vú được cho uống trà xanh, so sánh với những con chuột tương tự cho uống nước lã. Kết quả cho thấy những con chuột cho uống trà xanh giảm kích thướt khối u, còn những khối u mới chậm phát triển hơn. các nhà khoa học nhật bản ở viện nghiên cứu ung thư Saitama đã khám phá ra rằng nhưng phụ nữ có thói quen uống hơn 5 tách trà xanh mỗi ngày thường ít có nguy cơ mắt bệnh hoặc tái phát bệnh ung thư vú và bệnh không di căn nhanh chống như những đối tượng bình thường khác.

Đây là một thông điệp tốt đẹp để phụ nữ chúng ta quan tâm đến trà xanh . Để đạt được những lợi ích sức khoẻ bạn chỉ cần uống 3-4 tách mỗi ngày và tốt hơn nữa là không nên pha thêm đường hay sữa.

Trà xanh và bệnh viêm khớp
Tiến sĩ Tariq công tác tại trường đại học Western Reverve ở Cleveland, Ohio (Mỹ), đã cùng nhóm nghiên cứu tìm hiểu tác động của polyphenol đối với bệnh viêm khớp tiến triển tăng dần với các triệu chứng: viêm sưng, đau nhức, thoái hoá khớp.

Những con chuột ở trong phòng thí nghiệm cho uống: hoặc là nước trà xanh với liều lượng tương đương 4 tách mỗi ngày ở người hoặc là uống nước lã. Sau đó chúng được thử nghiệm bị tiêm collagen vào để nhằm mục đích gây ra bệnh viêm khớp tiến triển tăng dần ở người. Kết quả nghiên cưu cho thấy con chuột uống trà xanh ít bị viêm khớp hơn so với con chuột uống nước lã. Tuy nhiên cho dù chúng có mắc bệnh viêm khớp đi chăng nữa thì con chuột uống trà xanh chỉ mắt bệnh sơ sài vào một thời gian khá lâu sau đó.

Có một nhận xét thú vị rằng ở các quốc gia như Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản những nơi được xem trà là thức uống sức khỏe hàng ngày thì bệnh viêm khớp giảm hẳn so với nơi khác trên thế giới.

Trà xanh và bệnh tim
Vào tháng 5/2002 tạp chí "Circuration" của hội tim mạch Mỹ đã công bố cho thấy trà xanh nếu được uống thường xuyên sẽ giúp ít cho các bệnh nhân bệnh tim mạch . Kenneth J Mukamal mộy bác sĩ kiêm thạc sỉ công tác tại một trung tâm y khoa Beth Israel Deaconess cho biết "những lợi sức khoẻ lớn nhất của trà xanh đượ tìm thấy ở những bệnh nhân tim mạch".

Mukamal cùng các cộng sự đã khám pha ra rằng sau khi phát cơn đau tim những bệnh nhân nghiện trà xanh cỡ nặng "đô" có tỉ lệ tử vong ít hơn 44% so với bệnh nhân không uống trà, còn những bệnh nhân uống trà xanh ở mức độ vừa phải có tỉ lệ tử vong ít hơn 22% so với những người không uống trà. Chìa khóa cho tính năng bảo vệ sức khoẻ của trà xanh chính là các flavonoid. Flavonoid hiện diện trong cả trà xanh, trà đen, trong một số loại rau, táo, hành, bông cải, có khả năng ngăn ngừa cholesterol xấu LDL không bị Oxy hoá, chống tụ máu, chống xơ cứng động mạch. Tuy nhiên ,Mukamal cũng lưu ý rằng cần phaỉ có thêm nhiều nghiên cứu lâm sàng nữa ngay trên cả cá nhân mạnh khoẻ lẫn bệnh tật.

Trà xanh có công năng diệt khuẩn E-coli O-157
Tháng 8/1996 giáo sư T. Shimamura công tác tại trường đại học y khoa Showa (Nhật Bản) đã có công trình diễn thuyết "về tác động diệt khuẩn E-coli-157" tại hội thảo chuyên đề diệt khuẩn của trà xanh.

Catechin hợp chất tạo nên vị đắng của trà xanh có công dụng hữu hiệu trong việc tiêu diệt hầu hết các những loại vi khuẩn gây ngộ độc thực phẩm và giải trừ luôn những độc tố do vi khuẩn tiết ra cụ thể đây là độc tố Veratoxin của Ecoli -157. Nếu uống trà xanh trong và sau bữa ăn sẽ phát huy được cơ chế chất Catechin tiêu diệt tế bào ngoài của vi khuẩn. Trong các thử nghiệm này trà xanh được ngâm trong nước muối để tạo ra hợp chất pha loãng nồng độ 2,5% - 5% so với trà bình thường. Còn khi ngâm với nước nóng chất Catechin được giải thể nhiều hơn nên tác động diệt khuẩn cũng được cải thiện.

Một số hợp chất hoá học và lợi ít sức khoẻ khác của trà xanh
Catechin giảm nguy cơ đột biến gen giảm cholesterol, cao huyết áp, đường máu, diệt vi khuẩn cúm, ngừa sâu răng, hơi thở hôi.

Caffeine giúp bạn tỉnh táo giảm mỗi mệt, buồn ngủ, dùng như chất lợi tiểu.

Vitamin C giảm stress, ngừa cảm cúm.

Acid Gama-AminoBityric(GABA) hạ huyết áp.

Flavomoid tăng cường sức khoẻ thành động mạch, ngừa hôi miệng.

Polysaccharide ngừa tăng đường máu Fluoride ngừa sâu răng.

Vitamin E như là chất chống oxy hoá duy trì tuổi xuân.

Theanine tăng cường khẩu vị.

Bạn pha trà xanh để thưởng thức hương vị hay để đạt được lợi ích sức khoẻ
Pha một tách trà xanh tuyệt hảo không dể dàng như bạn nghĩ. Nếu không được học "trà đạo" cẩn thận những chất polyphenol vốn có ích cho sức khoẻ có thể quay ra phá hỏng hương vị làm cho trà đắng và đầy bọt.

Dùng nước nóng tốt hơn là dùng nước sôi ùng ục trên bếp.

Kích thước lá trà tốt nhất là chọn lá trà nhỏ xoăn ít vì nó giúp hãm trà nhanh hơn. Lá trà lớn xoăn tít quá mất nhiều thời gian hãm trà hơn.

Trà lá rời và trà túi lọc: nên dùng trà lá rời hơn là trà túi lọc. Túi lọc nên nhấn chìm, không nên để nổi lều bều trên mặt nước.

Thời gian hãm độ 2-5 phút hàm lượng polyphenol tăng lên với thời gian hãm. Hãm trà nhanh chỉ cho bạn thứ nước nhiều caffeine nhưng lại ít polyphenol.

Tốt nhất là pha theo hướng dẫn của từng hảng sản xuất nhưng dưới đây là nguyên tắc chung để pha trà ngon:
  • Dùng một túi trà, hay 2-4 gam trà(1-2 muỗng trà lá tuỳ theo từng loại trà xanh bạn đang dùng ) cho mỗi một tách nước.
  • Đun sôi một ấm nước lạnh sau đó tắt bếp để nước nghỉ khoảng 3 phút
  • Đổ nước nóng lên trà lá hay trà túi hãm độ 3 phút.
  • Đợi thêm 3 phút nữa cho trà nguội bớt và thưởng thức.

Thứ ba, ngày 09 tháng mười hai năm 2008

Chè (thực vật)

Cây chè có tên khoa học là Camellia sinensis là loài cây mà lá và chồi của chúng được sử dụng để sản xuất chè (trà - đừng nhầm với cây hoa trà). Tên gọi sinensis có nghĩa là "Trung Quốc" trong tiếng Latinh. Các danh pháp khoa học cũ còn có Thea boheaThea viridis.

Camellia sinensis có nguồn gốc ở khu vực Đông Nam Á, nhưng ngày nay nó được trồng phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới, trong các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới. Nó là loại cây xanh lưu niên mọc thành bụi hoặc các cây nhỏ, thông thường được xén tỉa để thấp hơn 2 mét (6 ft) khi được trồng để lấy lá. Nó có rễ cái dài. Hoa của nó màu trắng ánh vàng, đường kính từ 2,5–4 cm, với 7 - 8 cánh hoa. Hạt của nó có thể ép để lấy dầu.

Chè xanh, chè ô long và chè đen tất cả đều được chế biến từ loài này, nhưng được chế biến ở các mức độ ôxi hóa khác nhau.

Lá của chúng dài từ 4–15 cm và rộng từ 2–5 cm. Lá tươi chứa khoảng 4% caffein. Lá non và còn các lá có xanh lục nhạt được thu hoach để sản xuất chè khi mặt bên dưới của chúng còn các sợi lông tơ ngắn màu trắng. Các lá già có màu lục sẫm. Các độ tuổi khác nhau của lá chè tạo ra các sản phẩm chè khác nhau về chất lượng, do thành phần hóa học trong các lá này là khác nhau. Thông thường, chỉ có lá chồi và 2 đến 3 lá mới mọc gần thời gian đó được thu hoạch để chế biến. Việc thu hoạch thủ công bằng tay diễn ra đều đặn sau khoảng 1 đến 2 tuần.

Một số các biến thể khác nhau của C. sinensis được sử dụng để sản xuất chè:

Biến thể Assam
Phần lớn chè được sản xuất từ biến thể này (đôi khi nó được gọi là C. sinensis assamica hay C. assamica). Nó là loại cây nhỏ (thân đơn) với lá to. Trong tự nhiên, nó cao tới 6 - 20 mét (20–65 ft); trong các khu vực trồng để lấy lá người ta xén tỉa nó xuống chỉ còn cao trên hông người. Ở những vùng đất trũng, yêu cầu của nó là có độ ẩm cao (mưa nhiều) nhưng thoát nước tốt. Những cây trồng này không có khả năng chống chịu được điều kiện quá nóng. Cây chè Assam được phát hiện năm 1823 (mặc dù nó đã được người dân địa phương sử dụng làm đồ uống từ trước đó) là một trong hai cây chè gốc. Tất cả các cây chè Assam và phần lớn chè Ceylon (Tích Lan, nay là Sri Lanka) có nguồn gốc từ cây này. Chè Assam tạo ra hương vị ngọt của đồ uống, không giống như hương vị của các loại chè Trung Hoa khác.

Biến thể Trung Quốc
Chè Trung Quốc (đôi khi gọi là C. sinensis sinensis) là loài cây lá nhỏ, nhiều thân mọc thành bụi rậm cao tới 3 mét. Đây là loại chè đầu tiên được phát hiện, ghi chép lại và sử dụng để sản xuất chè có từ hơn 3000 năm trước, nó dùng để sản xuất nhiều loại chè nổi tiếng.

Biến thể Campuchia
Chè Cam pu chia đôi khi được gọi là C. sinensis parvifolia. Lá của chúng về kích thước nằm giữa kích thước của lá chè Assam và lá chè Trung Quốc; nó là một loại cây nhỏ với một số thân. Đôi khi người ta coi biến thể này là sản phẩm lai ghép của chè Assam và Trung Quốc.

Chè tại Việt Nam
Cây chè tại Việt Nam đến giữa thể kỷ 20 được giồng khắp miền quê ngòai Bắc và Trung. Loại này thân mọc cao, lá lớn và dầy, có thể hái về vò nát để nấu uống tươi gọi là chè xanh.

Loại thứ hai là chè đồn điền, cây thấp, lá nhỏ, thường phải ủ rồi mới nấu nước. Hạng nhất là chè búp, có khi gọi văn vẻ là "chè bạch mao" hay "chè bạch tuyết" nếu búp có lông tơ trắng.

Hạng nhì là hai lá chè kế. Lá thứ tư, thứ năm là chè hạng ba. Những lá dưới nữa thì dùng làm chè mạn, rẻ hơn cả.

Tính đến năm 1960, Việt Nam xuất cảng 2.000 tấn chè mỗi năm.

[Theo Wikipedia]

Trà

Nước trà (hay nước chè) là đồ uống phổ biến thứ hai trên thế giới (sau nước uống). Nó làm bằng cách ngâm lá, chồi, hay cành của cây chè (Camellia sinensis) vào nước sôi cho vài phút. Lá trà có thể được ôxy hóa (ủ để lên men), nóng lên, phơi, hay thêm vào cỏ, hoa, gia vị, hay trái cây khác trước khi ngâm vào nước. Có bốn loại trà thật: trà đen, trà Ô Long, trà xanh và trà trắng. Trà là một nguồn caffein, theophylline và chất chống oxy hóa (antioxidant) tự nhiên, nhưng nó gần như không có mỡ, carbohydrate, hay protein. Nó có vị mát mẻ, hơi đắng, và khắc cổ.